Free Host cho cộng đồng

Đang tải dữ liệu...
Trang 1 của 2 12 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 12
  1. #1
    Giấc mơ ngọt ngào sweet_dream4818's Avatar
    Ngày tham gia
    Mar 2009
    Đang ở
    Tập đoàn CDD
    Bài viết
    2,194
    Cảm ơn
    304
    Thanked 719 Times in 374 Posts
    Blog Entries
    8
    2
    Normal
     
     
    Số lần cộng|trừ: 10 lần

    Mặc định Những điều lý thú trong hóa học

    Chủ Đề: Mặc định Những điều lý thú trong hóa học

    ►Lượt Xem: 2327 ►Trả Lời: 11
    ►Chia Sẽ:
    ►Ngày Gửi: 03-04-2009 ►Đánh Giá: Sao

    Có những điều lí thú trong hóa học mà ta chưa biết đến,nào ,bây giờ chúng ta sẽ đi tìm hiểu nhé!
    Đầu tiên,trước khi nó là môn Hóa học như ngày nay,nó mang tên là "Giả kim Thuật"

    Giả kim thuật là danh từ dịch từ chữ “alchimi”, mà người Ả Rập sau khi xâm chiếm Ai Cập giữa thế kỉ thứ 7, đặt ra bằng cách lắp tiền tố “al” của Ả Rập vào từ chimi để chỉ thứ “tiền hóa học” ngự trị trong thời kì trung cổ ở châu Âu (từ thế kỉ thứ 2 đến thế kỉ thứ 16).
    Ký hiệu hóa học thời kì "Giả kim thuật"


    +1 EXP
    Xem thêm chủ đề ngẫu nhiên :
    Lần sửa cuối bởi nmh1223, ngày 03-04-2009 lúc 09:52 PM.
    "Đừng than phiền về những điều bạn chưa có.Hãy vui với những điều bạn đang có"
    -- H.Stanley Judd --

  2. #2
    Giấc mơ ngọt ngào sweet_dream4818's Avatar
    Ngày tham gia
    Mar 2009
    Đang ở
    Tập đoàn CDD
    Bài viết
    2,194
    Cảm ơn
    304
    Thanked 719 Times in 374 Posts
    Blog Entries
    8
    2
    Normal
     
     
    Số lần cộng|trừ: 10 lần

    Mặc định


    Đường đi của kiến

    Bạn có bao giờ tự hỏi kiến làm cách nào để có thể tìm đường đến thức ăn chưa được đậy kín cẩn thận trong nhà bếp của bạn hay không? Hiện nay, các nhà khoa học đã khám phá ra cách các con kiến rừng nhỏ bé tìm đường đi khá xa chỉ với thị lực kém ở những vùng đất mới.

    Cuộc nghiên cứu này đem lại nhiều lợi ích có ý nghĩa to lớn đối với công cuộc phát triển một loại rôbốt tự động, ngoài ra còn giúp chúng ta hiểu được quá trình học hỏi của động vật cơ bản.

    Các nhà khoa học thuộc Đại Học Sussex, dưới sự tài trợ của Hội Nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Sinh học (BBSRC), đã trình bày chính xác cơ chế tìm đường đi của kiến bằng thị giác. Trên một đoạn củi, chuyến đi lần đầu của kiến đến thức ăn gần đó là theo dấu vết của chất dịch mà những con kiến đi trước để lại. Đây là một cuộc di chuyển chậm chạp vì kiến phải dùng râu rà trên mặt đất để dò tìm đường. Tuy nhiên, chuyến đi đầu tiên về cơ bản khiến cho kiến có thể nhớ đường đi. Ở chặng đi ban đầu, con kiến lưu trữ nhiều hình ảnh về đoạn đường đã đi qua và ở những chặng sau, nó tìm đường bằng cách kết hợp ký ức trên với quang cảnh xung quanh. Các nhà khoa học khám phá thêm rằng con kiến còn lưu nhiều ký ức khác nhau về đoạn đường đó tùy thuộc lúc nó đang trên đường đi tìm hay trên đường đem thức ăn về tổ. Các con kiến lưu trữ nhiều ký ức và có thể dùng đúng lúc đúng chỗ.

    Các nhà nghiên cứu giải thích rõ hơn về sự lựa chọn ký ức hình ảnh của kiến bằng các thí nghiệm cụ thể. Giáo sư Tom Collett thuộc Trung tâm Thần kinh ở Đại Học Sussex, giải thích:”Để chứng minh kiến dùng ký ức hình ảnh cho việc dò tìm đường, chúng tôi phải huấn luyện nó đi tìm thức ăn trên đoạn đường cách một cây cột trụ khoảng 10cm. Sau đó, chúng tôi tăng kích cỡ của cột lên gấp đôi để con kiến phải tìm đường đến thức ăn xa khoảng 20cm thì nhận thấy kích thước võng mạc của nó về đường đi vẫn giống như cũ”.

    Để phân tích năng lực gợi nhớ ký ức tìm đường của kiến, các nhà nghiên cứu đã tạo nên một tình huống mơ hồ cho nó: Huấn luyện những con kiến đi tìm thức ăn ở giữa 2 cột trụ kích thước khác nhau, sau đó kiểm tra lại bằng cách đổi 2 cây cột trụ có cùng kích cỡ. Liệu con kiến có biết cây cột nào với kích thước nào không? Con kiến chỉ có thể tìm đến đúng nơi sau khi nó phục hồi lại được tín hiệu về quang cảnh xung quanh. Giáo sư Collett nói rằng:”Để nhận biết cột trụ, con kiến cần dựa vào cảnh xung quanh trên vị trí khác nhau trong giác mạc khi nó tiếp xúc với cây cột. Con kiến có thể phục hồi ký ức chính xác thường do khả năng lưu trữ hình ảnh toàn cảnh của đoạn đường đi tìm thức ăn”.

    Các hiểu biết sâu hơn về đường đi của kiến hy vọng giúp phát triển loại rôbốt tự động. Giáo sư Collett giải thích:”Hoạt động của côn trùng có khuynh hướng máy móc hơn động vật, và kiến tìm đường đi kém linh động hơn. Dễ hiểu là kiến tìm đường đi dựa vào sự rập khuôn và để thiết kế rôbốt tìm đường thì có thể dựa theo nguyên tắc này”.

    Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang lên kế hoạch cho nhiều cuộc thí nghiệm sâu hơn có thể cho biết những mức độ chi tiết mới mẻ về khả năng hình ảnh của côn trùng và cho phép xây dựng các hình mẫu ký ức. Giáo sư Julia Goodfellow, trưởng ban quản trị của Hội Nghiên cứu BBSRC, nói:”Nghiên cứu các hệ thống tri nhận giúp cho chúng ta thêm cơ hội hiểu biết cách thức xử lý dữ liệu của động vật, bao gồm con người để từ đó ích lợi cho công tác học tập, suy luận, quyết định và giao tiếp. Hội Nghiên cứu BBSRC đang hợp tác với nhiều Hội Nghiên cứu khác cùng các nhà tài trợ để hỗ trợ cho cuộc nghiên cứu đa ngành mới mẻ trong lĩnh vực này”

    Quỳnh Thi biên dịch

    hoahocvietnam.com

    +4 EXP
    "Đừng than phiền về những điều bạn chưa có.Hãy vui với những điều bạn đang có"
    -- H.Stanley Judd --

  3. #3
    Giấc mơ ngọt ngào sweet_dream4818's Avatar
    Ngày tham gia
    Mar 2009
    Đang ở
    Tập đoàn CDD
    Bài viết
    2,194
    Cảm ơn
    304
    Thanked 719 Times in 374 Posts
    Blog Entries
    8
    2
    Normal
     
     
    Số lần cộng|trừ: 10 lần

    Mặc định Lịch sử hóa học


    Lịch sử hóa học
    Hóa học phát triển từ giả kim thuật, đã được thực hành từ hàng ngàn năm trước ở Trung Hoa, Châu Âu và Ấn Độ.

    Khoa giả kim thuật nghiên cứu về vật chất, nhưng thế giới của những nhà giả kim thuật đều dựa trên kinh nghiệm thực tế và công thức bắt nguồn từ thực hành chứ không dựa vào những nghiên cứu khoa học. Mục đích của họ là một chất gọi là "Hòn đá thông minh" dùng để biến đổi những chất như chì thành vàng. Các nhà giả kim thuật đã tiến hành rất nhiều thí nghiệm để tìm ra chất này qua đó họ đã phát triển nhiều dụng cụ mà ngày nay vẫn còn được sử dụng trong kỹ thuật hóa học.

    Nhưng không một nhà giả kim thuật nào tìm ra được hòn đá thông minh đó và trong thế kỷ thứ 17, các phương pháp làm việc của khoa giả kim thuật được thay đổi bằng những phương pháp khoa học. Một phần kiến thức của các nhà giả kim thuật được sử dụng bởi các nhà hóa học, những người làm việc dựa vào kết luận hợp lý của những gì mà họ quan sát được chứ không dựa vào ý nghĩ biến hóa chì thành vàng.

    Lịch sử của hóa học có thể được coi như bắt đầu từ lúc Robert Boyle tách hóa học từ khoa giả kim thuật trong tác phẩm The Skeptical Chemist (Nhà hóa học hoài nghi) vào năm 1661 nhưng thường được đánh dấu bằng ngày Antoine Lavoisier tìm ra khí ôxy vào năm 1783.

    Hóa học như là một môn khoa học đã có được nhiều thúc đẩy vào thế kỷ 19. Những nghiên cứu của Justus von Liebig về tác động của phân bón đã thành lập ra ngành Hóa nông nghiệp và cung cấp nhiều nhận thức cho ngành hóa vô cơ. Cuộc tìm kiếm một hóa chất tổng hợp thay thế cho chất màu indigo dùng để nhuộm vải là bước khởi đầu của những phát triển vượt bậc cho ngành hóa hữu cơ và dược. Một đỉnh cao trong việc phát triển ngành hóa học là phát minh bảng tuần hoàn nguyên tố của Dmitri Ivanovich Mendeleev và Lothar Meyer. Mendelev đã sử dụng quy luật của bảng tuần hoàn để tiên đoán trước sự tồn tại và tính chất của germanium, gallium và scandium vào năm 1870. Gallium được tìm thấy vào năm 1875 và có những tính chất như Mendeleev đã tiên đoán trước.

    Nghiên cứu trong hóa học đã phát triển trong thời kỳ chuyển tiếp sang thế kỷ 20 đến mức các nghiên cứu sâu về cấu tạo nguyên tử đã không còn là lãnh vực của hóa học nữa mà thuộc về vật lý nguyên tử hay vật lý hạt nhân. Mặc dù vậy các công trình nghiên cứu này đã mang lại nhiều nhận thức quan trọng về bản chất của sự biến đổi chất hóa học và của các liên kết hóa học. Các động lực quan trọng khác bắt nguồn từ những khám phá trong vật lý lượng tử thông qua mô hình quỹ đạo điện tử.
    • Tài liệu khác

    Lịch sử ngành hóa học có lẽ được hình thành cách đây khoảng 4000 năm khi người Ai Cập cổ đại lần đầu dùng kĩ thuật tổng hợp hóa học dạng "ướt".Đến thời kì 1000 năm trước Công nguyên một số nền văn minh đã dùng những kĩ thuật hóa học vẫn còn giá trị nền tảng cho đến tận ngày nay, như: luyện thép từ quặng sắt, làm đồ gốm, lên men rượu bia, tạo ra màu để sơn và trang trí, chiết xuất tinh chất từ thực vật làm thuốc hay nước hoa, làm phô mai, nhuộm quần áo, thuộc da, chế biến mỡ thành xà bông, làm ra thủy tinh, chế tạo hợp kim chẳng hạn đồng.

    Cách tiếp cận đến bản chất của thế giới vật chất và những chuyển hóa trong đó theo kiểu triết học thời cổ đại cũng như theo kiểu giả kim thuật đã không thành công, nhưng bằng cách làm thực nghiệm và ghi lại kết quả các nhà giả kim đã đặt nền móng cho phương pháp khoa học sau này. Năm 1661 ông Robert Boyle bằng công trình The Sceptical Chymist đã tách biệt hẳn giả kim thuật và hóa học, mở ra thời kì mới cho hóa học hiện đại.

    Hóa học trở thành ngành khoa học theo nghĩa đầy đủ khi Antoine Lavoisier nêu ra định luật bảo toàn khối lượng, đòi hỏi các đại lượng hóa học phải được định lượng và đo lường cẩn thận. Vì thế mà dù cả giả kim thuật lẫn hóa học đều quan tâm đến bản chất của vật chất và sự chuyển hóa của chúng nhưng chỉ có nhà hóa học, chứ không phải nhà giả kim, dùng phương pháp khoa học trong nghiên cứu. Lịch sử hóa học thường được gắn với lịch sử nhiệt động học, nhất là từ công trình của Willard Gibbs

    +5 EXP
    "Đừng than phiền về những điều bạn chưa có.Hãy vui với những điều bạn đang có"
    -- H.Stanley Judd --

  4. #4
    Junior Member The_war_12A3's Avatar
    Ngày tham gia
    Apr 2009
    Đang ở
    Cam Duc
    Bài viết
    21
    Cảm ơn
    5
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    1
    None
     
     
    Số lần cộng|trừ: 0 lần

    Mặc định


    Cho mình hỏi ?
    Ngày xưa các nhà giả kim thuật biểu diễn các pt hóa học bằng cách nào dậy
    chỉ cho mình với


  5. #5
    Giấc mơ ngọt ngào sweet_dream4818's Avatar
    Ngày tham gia
    Mar 2009
    Đang ở
    Tập đoàn CDD
    Bài viết
    2,194
    Cảm ơn
    304
    Thanked 719 Times in 374 Posts
    Blog Entries
    8
    2
    Normal
     
     
    Số lần cộng|trừ: 10 lần

    Mặc định


    Mình nghĩ là dùng các kí hiệu hóa học thời kì giả kim thuật đã cung cấp ở trên đó.Cũng không chắc nữa

    "Đừng than phiền về những điều bạn chưa có.Hãy vui với những điều bạn đang có"
    -- H.Stanley Judd --

  6. #6
    Giấc mơ ngọt ngào sweet_dream4818's Avatar
    Ngày tham gia
    Mar 2009
    Đang ở
    Tập đoàn CDD
    Bài viết
    2,194
    Cảm ơn
    304
    Thanked 719 Times in 374 Posts
    Blog Entries
    8
    2
    Normal
     
     
    Số lần cộng|trừ: 10 lần

    Mặc định


    Hoá học và mùi vị


    Hình dạng phân tử là một trong những yếu tố quan trọng để xác định một hợp chất có vị ngọt hay đắng. Lưỡi của bạn có khoảng 3000 bộ phận cảm nhận mùi vị (taste bud – các hạt nhỏ trên lưỡi để nhận thức được vị) có hình dáng giống củ hành, chứa từ 50 đến 150 tế bào vị giác. Mỗi hạt như thế chỉ chuyên cảm nhận vị ngọt, chua, mặn hoặc đắng. Nhiều ý kiến cho rằng lưỡi còn có thể nhận biết được một loại vị khác là umami (tiếng Nhật có nghĩa "vị cơ bản" hay "thuộc về thịt"), một mùi rất khó nhận ra và thường được liên tưởng tới bột ngọt (MSG – monosodium glutamate). Các tế bào vị giác là những phân tử thụ quan được cấu tạo phù hợp với một số phân tử nhất định trong thức ăn.

    Chẳng hạn khi sôcôla được nung lên, cafein và một số hợp chất khác được tạo thành, những thứ tạo ra vị đắng. Những phân tử của các hợp chất này cho phép chúng kết hợp với các tế bào vị giác và kích thích hệ thần kinh ngay sau đó, việc này sẽ gửi tín hiệu của vị đắng lên não.

    Đường được cho vào sôcôla để trung hoà bớt vị đắng. Sự sắp xếp các nguyên tử trong phân tử đường cho phép chúng vừa vặn trong vị trí của tế bào vị giác. Khi một phân tử đường, ví dụ như đường glucose hay sucrose, được gắn vào tế bào vị giác, tín hiệu cũng sẽ được truyền lên não để cảm nhận được vị ngọt. Vị mặn được cho là có cơ chế hoạt động khác vị ngọt và đắng. Sự hiện diện của ion Na+ trong muốn ăn (natri clorua – NaCl) tạo ra vị mặn. Bên trong tế bào cảm nhận vị mặn mang điện âm. Khi các tế bào này được bảo bọc bởi nước bọt có hoà tan ion Na+, nó sẽ xâm nhập tế bào và trung hoà điện bên trong. Sự thay đổi này giải phóng một loại hoá chất gọi là chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters), chất này kích thích thần kinh và chuyển đến não tín hiệu của vị mặn.

    Hoá học và mùi vị

    Axit tạo ra vị chua trong thực phẩm. Ví dụ như giấm có vị chua vì nó chứa axit axetic. Các axit này phân li trong nước tạo ra ion H+. Mỗi loài động vật khác nhau có cơ chế cảm nhận vị chua khác nhau. Ở các loài lưỡng cư, ion H+ ngăn chặn tế bào cảm nhận vị chua giải phóng ion K+, tạo nên sự mất cân bằng điện tích khiến chúng tiết ra các chất dẫn truyền thần kinh.

    Người ta cho rằng có những lý do tốt để trong việc phát triển vị giác của chúng ta. Bốn loại vị chính sẽ cho biết loại thức ăn chúng ta cần hay cảnh báo chúng ta tránh xa những chất có hại. Chúng ta cần đường để cung cấp năng lượng và muối để thay thế lượng natri và kali mất đi khi chúng ta hoạt động. Mặt khác, thực phẩm thối tạo ra rất nhiều các độc chất có vị đắng trong khi những cơn đau bụng được tránh khỏi bởi vị chua của trái cây chưa chín.


    Đặng Ngọc Huy
    hoahocvietnam.com

    +4 EXP
    "Đừng than phiền về những điều bạn chưa có.Hãy vui với những điều bạn đang có"
    -- H.Stanley Judd --

  7. #7
    moderators nancy's Avatar
    Ngày tham gia
    Mar 2009
    Đang ở
    B2 zô đối >"<!
    Bài viết
    954
    Cảm ơn
    216
    Thanked 187 Times in 119 Posts
    1
    Beginner
     
     
    Số lần cộng|trừ: 5 lần

    Mặc định Bí ẩn trụ sắt không rỉ


    Tại vùng nông thôn miền Tây Ấn Độ sừng sững một cây cột sắt được đúc vào thế kỷ V sau Công nguyên. Cây cột cao 7m, đường kính khoảng 1,37m, dùng thép đã tôi đúc thành, đặc, trên đỉnh trang trí những hoa văn cổ. Tương truyền cây cột sắt này được đúc để tưởng nhớ nhà Vua Chamdaro.




    Nhưng điều làm người ta kinh ngạc là cột sắt đứng lộ thiên đã hơn 1.500 năm, trải qua không biết bao mưa gió cho tới tận ngày nay vẫn không thấy một vết gỉ sét nào. Trong khi đó, sắt là kim loại rất dễ gỉ sau vài chục năm chứ không cần nói tới hơn nghìn năm.

    Cho tới nay người trái đất vẫn chưa tìm ra được một phương pháp hiệu quả để chống sự gỉ sét của các đồ làm bằng sắt. Mặc dù theo lý thuyết, sắt nguyên chất là không bị gỉ nhưng sắt nguyên chất khó luyện, giá thành lại cực cao. Hơn nữa, một số nhà khoa học đã phân tích thành phần của cột sắt, phát hiện ra trong đó có rất nhiều tạp chất chứ không phải là sắt nguyên chất. Và theo lý thuyết, cột sắt dễ gỉ sét hơn những loại sắt thông thường.




    Nếu cho rằng người Ấn Độ cổ đại đã sớm nắm được kỹ thuật luyện sắt không gỉ và kỹ thuật này đã bị thất truyền thì tại sao họ lại không luyện ra những đồ sắt không gỉ khác? Hơn nữa trong cuốn chế tạo đồ sắt của người Ấn Độ cổ cũng không có một dòng ghi chép nào nói tới vấn đề này.

    Cột sắt đó cứ đứng đơn độc sừng sững dường như thách thức với tài trí thông minh khám phá của nhân loại, đồng trời cũng là tượng trưng cho nền văn minh Ấn Độ cổ.


    sưu tầm

    +3 EXP
    Lần sửa cuối bởi nancy, ngày 12-04-2009 lúc 07:58 PM.
    giá như thời gian chậm lại...
    ....để tôi có thể bên bạn lâu hơn
    yêu mọi người nhiều..
    .


  8. #8
    Giấc mơ ngọt ngào sweet_dream4818's Avatar
    Ngày tham gia
    Mar 2009
    Đang ở
    Tập đoàn CDD
    Bài viết
    2,194
    Cảm ơn
    304
    Thanked 719 Times in 374 Posts
    Blog Entries
    8
    2
    Normal
     
     
    Số lần cộng|trừ: 10 lần

    Mặc định


    Mùi "kim loại"

    Mùi “kim loại” từ đâu mà có khi chúng ta chạm vào các vật thể làm bằng kim loại như các dụng cụ, đồ dùng, các chắn song, tiền xu? Mùi “kim loại” của các kim loại, nước chứa kim loại và máu là do chất dầu trên da, theo Dietmar Glindemann. Cùng nghiên cứu với một nhóm nghiên cứu của Viện Bách Khoa Virginia và Đại Học Liên Bang ở Mỹ, Đại Học Leipzig và Trung tâm Nghiên cứu Môi Trường Leipzig ở Đức, Dietmar Glindermann đã tiến hành theo dõi các phân tử mùi gây ra mùi “kim loại” này.

    Ông phát biểu: ”Mùi “kim loại” là một loại mùi của cơ thể người do chất dầu trên da. Thật ra mùi “kim loại” chúng ta đang ngửi thấy là một ảo giác”.

    Tiến hành bảy cuộc thí nghiệm về vấn đề này cho thấy rằng mùi “kim loại ẩm mốc” sẽ xuất hiện ngay khi chạm tay vào kim loại rắn hay một dung dịch chứa các ion kim loại hóa trị +2. Ngược lại, các dung dịch chứa ion kim loại hóa trị -3 không gây ra mùi. Phân tích dầu trên da cho thấy mùi vị của các hợp chất hữu cơ khác nhau dường như là đặc tính của mùi “kim loại”. Hợp chất chính gọi là 1-octen-2-one, mùi “kim loại ẩm mốc”, vẫn ngửi được mùi ngay cả khi pha loãng. Nguồn gốc của các phân tử mùi này là do các peroxide của chất béo sinh ra khi dầu trên da bị oxy hóa bởi enzym hoặc ở các quá trình khác (ví dụ như oxy hóa dưới tia UV). Sau đó, các peroxide của chất béo bị phân hủy bởi ion kim loại hóa trị -2, khiến các ion -2 này bị khử thành ion hóa trị -3. Khi chạm vào các vật làm bằng kim loại, các ion hóa trị -2 xuất hiện khiến mồ hôi trên da sẽ làm kim loại bị gỉ sét.

    Máu dính trên da cũng cho kết quả mùi “kim loại” tương tự do các phân tử mùi gây ra. Máu cũng chứa các nguyên tử kim loại. Glindemann nói:”Chúng ta có thể “ngửi” thấy mùi kim loại, giống như “ngửi” thấy mùi của máu. Vì vậy, trước đây, con người có thể lần theo dấu vết của con mồi bị thương hoặc các thành viên bộ lạc”.

    Trên cơ sở những kiến thức mới mẻ này, các nhà dược học có thể nghiên cứu tiến hành các cuộc thí nghiệm mùi “kim loại” sâu hơn với da, máu và mô tế bào để nhận diện “dấu vân tay” đặc trưng hình thành do phân tử mùi dễ bay hơi như là một dấu hiệu riêng của “mùi” trên mỗi cá nhân, dấu hiệu oxy hóa chất gây căng thẳng thần kinh và dấu hiệu bệnh tật.

    Các nhà nghiên cứu cũng có thể định rõ đặc điểm của mùi các “kim loại” khác như: carbon và phosphorus chứa trong gang và thép có mùi “tỏi kim loại” khi gặp acid. Cho đến ngày nay, các nhà luyện kim cho rằng mùi “kim loại” là do khí phosphine (PH3). Tuy nhiên, ở nồng độ có thể hít thở được, phosphine tinh khiết (được biết đến như thuốc diệt côn trùng, sâu bọ) là chất cơ bản không mùi. Thủ phạm thật sự gây nên mùi “kim loại” là phosphine hữu cơ, đặc biệt là hợp chất gây mùi với nồng độ cao như methylphosphine và dimethylphosphine. Cấu trúc của chúng giống như một phân tử phosphine với 1 hoặc 2 nguyên tử hydrogen đã được thay thế bởi nhóm methyl (CH3).
    hoahoc.org

    +4 EXP
    "Đừng than phiền về những điều bạn chưa có.Hãy vui với những điều bạn đang có"
    -- H.Stanley Judd --

  9. #9
    Giấc mơ ngọt ngào sweet_dream4818's Avatar
    Ngày tham gia
    Mar 2009
    Đang ở
    Tập đoàn CDD
    Bài viết
    2,194
    Cảm ơn
    304
    Thanked 719 Times in 374 Posts
    Blog Entries
    8
    2
    Normal
     
     
    Số lần cộng|trừ: 10 lần

    Mặc định


    Bông Tuyết

    Bông tuyết là một dạng đặc biệt của nước đá. Bông tuyết được hình thành trong những đám mây chứa hơi nước. Khi nhiệt độ trong khoảng 320 F (00 C) hoặc lạnh hơn thì nước sẽ chuyển từ dạng lỏng sang dạng rắn. Có vài yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành bông tuyết. Đó là nhiệt độ, luồng không khí và độ ẩm, tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến hình dạng và kích cỡ của bông tuyết.

    Cặn bẩn và bụi có thể trộn lẫn vào nước và ảnh hưởng đến khối lượng và tính bền của tinh thể. Cặn bẩn làm cho bông tuyết nặng hơn và có thể là nguyên nhân gây ra sự nứt, vỡ trong tinh thể, đồng thời làm nó dễ tan chảy. Sự hình thành bông tuyết là một quá trình động. Một bông tuyết có thể gặp nhiều điều kiện môi trường khác nhau, đôi khi ở môi trường làm tan chảy nó, đôi khi lại phát triển nó khiến bông tuyết luôn luôn thay đổi về cấu trúc.

    Những dạng thường gặp của bông tuyết

    Nói chung, các tinh thể 6 mặt được hình thành ở những đám mây cao; tinh thể hình kim hoặc những tinh thể phẳng 6 mặt hình thành trong những đám mây ở độ cao trung bình; còn những dạng 6 mặt khác được hình thành trong những đám mây thấp.

    Nhiệt độ thấp hơn cho bông tuyết với những đầu nhọn trên mặt tinh thể và có thể dẫn đến việc phân nhánh các cánh bông tuyết (tinh thể dạng nhánh cây). Những bông tuyết phát triển trong điều kiện ấm hơn lớn chậm hơn, kết quả là phẳng hơn, hình dạng ít phức tạp hơn.

    · 32 ÷ 250 F - Bản 6 mặt mỏng

    · 25 ÷ 210 F - Hình kim

    · 21 ÷ 140 F - Cột rỗng

    · 14 ÷ 100 F - Bản hình quạt (hình răng cưa 6 mặt)

    · 10 ÷ 30 F - Tinh thể dạng nhánh cây (dạng ren 6 mặt)

    Tại sao có sự đối xứng trong những bông tuyết (các mặt đều giống nhau)?


    Trước hết, không phải tất cả những bông tuyết đều đối xứng giống nhau ở mọi mặt cạnh. Nhiệt độ hay thay đổi, sự có mặt của cặn và những yếu tố khác có thể làm các mặt bông tuyết không cân xứng như nhau. Tuy nhiên sự thật là nhiều bông tuyết có tính đối xứng và phức tạp. Đó là bởi hình dạng của bông tuyết phản ánh thứ tự bên trong của các phân tử nước. Phân tử nước ở trạng thái rắn, như đá và tuyết, hình thành nên liên kết yếu (gọi là liên kết hiđro) với phân tử kia. Sự sắp xếp thứ tự này dẫn đến dạng 6 mặt và đối xứng của bông tuyết. Trong quá trình kết tinh, các phân tử nước liên kết với nhau tạo ra lực hút lớn nhất và lực đẩy nhỏ nhất. Do đó, các phân tử nước sắp xếp vào những khoảng không gian định trước theo kiểu đặc trưng riêng biệt. Các phân tử nước thường là tự sắp xếp vừa khít vào những khoảng trống và duy trì sự đối xứng .

    Có đúng là không thể có 2 bông tuyết nào giống hệt nhau?


    Đúng và sai. Đúng là không có 2 bông tuyết nào giống hệt nhau hoàn toàn, nó tùy thuộc vào sự chính xác trong số lượng phân tử nước, dao động của các electron, đồng vị phong phú của hiđro và oxi … Mặt khác, có thể 2 bông tuyết trông giống nhau y hệt và bất kỳ bông tuyết nào cũng có thể giống nhau ở vài điểm nào đó ở thời điểm hình thành. Do nhiều yếu tố ảnh hưởng tới cấu trúc của bông tuyết và cấu trúc đó luôn luôn thay đổi phản ứng lại với điều kiện môi trường nên không thể chắc chắn sẽ có thể thấy 2 bông tuyết giống nhau hoàn toàn.

    Trong khi nước và đá trong suốt , vậy tại sao tuyết lại trông có màu trắng?


    Câu trả lời ngắn gọn là những bông tuyết có nhiều bề mặt phản chiếu ánh sáng, làm phân tán tất cả ánh sáng màu, vì vậy bông tuyết xuất hiện màu trắng. Câu trả lời dài hơn là phải nghiên cứu cách mà mắt người cảm nhận ánh sáng. Mặc dù nguồn sáng thực sự không thể là ánh sáng “trắng” (như ánh sáng mặt trời, ánh sáng huỳnh quang, ánh sáng chói, tất cả đều có màu đặc trưng), nhưng não người vẫn cảm nhận một nguồn sáng nhạt. Vì vậy, mặc dù ánh sáng mặt trời có màu vàng và đã tỏa ánh sáng vào tuyết là màu vàng nhưng não người vẫn cảm nhận tuyết màu trắng bởi vì toàn bộ ảnh mà não nhận được là màu vàng nhạt và điều đó tự động bị loại trừ.

    Quang Trường
    (Theo Chemistry About)
    hoahocvietnam.com

    +5 EXP
    "Đừng than phiền về những điều bạn chưa có.Hãy vui với những điều bạn đang có"
    -- H.Stanley Judd --

  10. #10
    Junior Member ngocmai's Avatar
    Ngày tham gia
    Mar 2009
    Bài viết
    3
    Cảm ơn
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    1
    None
     
     
    Số lần cộng|trừ: 0 lần

    Wink Không thể làm vỡ thủy tinh được !


    Rõ ràng những chai lọ làm bằng cát nóng chảy hoặc thạch anh bền chắc hơn những chai lọ bằng thủy tinh thông thường rất nhiều:có thể nung đỏ nó rồi nhúng vào nước lạnh, nó vẵn không hề gì
    Nhưng tại sao không dùng thạch anh đẻ làm cốc dĩa và bình.Tại vì những chai lọ bằng thạch anh rất quý
    nên nhớ rằng muốn nung chảy thạch anh thì phải dùng lò diên phải tiêu hao rất nhiều năng lượng
    Ngày nay người ta đã chế tạo ra thủy tinh không vỡ
    Ở Pháp người ta còn chế tạo ra cả thảy tinh an toàn đến nỗi đận xuyên qua không thủng được mà chỉ làm cho thủy tinh bị rạn nứt thôi.Sự kì diệu này có được là do thủy tinh được gắn với nhau bởi nhựa xenluloit trong suốt
    Người Nga còn chế tạo ra thủy tinh không vỡ bằng chất dẻo.
    Bạn Mai để ý kỹ mục post bài !

    +1 EXP
    Lần sửa cuối bởi Gagasi, ngày 08-05-2009 lúc 04:10 PM.

Trang 1 của 2 12 CuốiCuối

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Khách tìm thấy trang này qua các từ khóa

nhung dieu ly thu ve hoa hoc

nhung dieu li thu ve hoa hoc

những điều lí thú về hóa học

nhung dieu can nho trong hoa hocnhung dieu li thu trong hoa hocLÝ THÚ HÓA HỌCnhững lý thú trong hóa họcxem nhung dieu li thudieu ly thu hoa hochóa học kỳ thúkì thú trong hóa họcnhung dieu co ban ve mon hoa 12một số điều lý thú về hoá họcsach hoa hoc nhung dieu li thunhug dieu ly1 thu cua hoa hocnhững điều lý thúnhung dieu co ban ve mon hoa hocnhung dieu li thu trong mon hoa hoctinh chế galliumlàm sao tạo ra gallium lỏngcau hoi ly thu ve hoa hocblog hóa học lý thúnhững câu hỏi lý thú trong thế giới hóa học nhung ddieu ky thu trong hoa hocnhưng điều lí thú về hóa học

Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
THÔNG BÁO CẦN BIẾT
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
HƯỚNG DẪN